Ngày 17 tháng 5 năm 2013, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 65/2013/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 và Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ về thuế giá trị gia nâng cao (GTGT); Cụ thể như sau:
1. Về đối tượng không chịu thuế GTGT được sửa đổi, bổ sung 1 số điểm sau:
Tài sản tiêu dùng để uy tín tiền vay của người nộp thuế GTGT hoặc đã được chuyển quyền mang sang bên cho vay lúc bán nên chịu thuế GTGT, trừ ví như là hàng hoá ko chịu thuế GTGT.
ví như cơ sở kinh doanh phân phối dịch vụ như dịch vụ lau dọn văn phòng, lau dọn nhà cửa thì dịch vụ này thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.
- Đối có dịch vụ cấp tín dụng gồm những hình thức: Cho vay; Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác; Bảo lãnh ngân hàng; Cho thuê tài chính; Phát hành thẻ tín dụng; Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với những ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật.
- Đối mang dịch vụ dùng cho công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư phân phối cho tổ chức, cá nhân (kể cả tổ chức, cá nhân trong và không tính khu công nghiệp) bao gồm những hoạt động thu, dọn, vận chuyển, xử lý rác và chất phế thải; thoát nước, xử lý nước thải; bơm hút, vận chuyển và xử lý phân bùn, bể phốt; thông tắc công trình vệ sinh, hệ thống thoát nước thải; quét dọn nhà vệ sinh công cộng; duy trì vệ sinh tại các nhà vệ sinh lưu động và thu gom, vận chuyển xử lý chất thải khác.
2. Đối sở hữu các trường hợp chẳng phải kê khai, tính nộp thuế GTGT sửa đổi, bổ sung một số điểm như sau:
- các khoản thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và những khoản thu tài chính khác.
Cơ sở buôn bán khi nhận khoản tiền thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác thì lập chứng từ thu theo quy định. Đối với cơ sở marketing chi tiền, căn cứ mục đích chi để lập chứng từ chi tiền.
nếu bồi thường bằng hàng hoá, dịch vụ thì cơ sở bồi thường phải lập hoá đơn như đối với bán hàng hoá, dịch vụ; cơ sở nhận bồi thường kê khai, khấu trừ theo quy định.
3. Về giá tính thuế GTGT sửa đổi, bổ sung đối có nếu thuê đất để làm cơ sở hạ tầng, làm nhà để bán, để cho thuê giá đất được trừ để tính thuế GTGT là tiền thuê đất nên nộp NSNN (không bao gồm tiền thuê đất được miễn, giảm) và mức giá đền bù, giải phóng mặt bằng theo quy định pháp luật.
giả dụ công ty buôn bán bất động sản sở hữu nhận chuyển nhượng quyền tiêu dùng đất nông nghiệp của người dân theo hợp đồng chuyển nhượng, sau ấy được cơ quan Nhà nước sở hữu thẩm quyền cho phép chuyển mục đích dùng sang thành đất ở để làm chung cư, nhà ở…để bán thì giá đất được trừ khi tính thuế GTGT là giá đất nông nghiệp nhận chuyển nhượng từ người dân và các chi phí khác bao gồm: khoản tiền dùng đất nộp NSNN để chuyển mục đích tiêu dùng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở, thuế thu nhập cá nhân nộp thay người dân với đất chuyển nhượng (nếu các bên có thỏa thuận doanh nghiệp buôn bán bất động sản nộp thay.
ví như xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển nhượng với thu tiền theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng thì giá đất được trừ được tính theo tỷ lệ (%) của số tiền thu theo tiến độ thực hiện dự án trên tổng số tiền theo hợp đồng hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng sở hữu giá đất được trừ theo quy định.
một số sửa đổi, bổ sung mới về chính sách thuế GTGT
4. Sửa đổi về thuế suất thuế GTGT đối mang một số ví như sau:
- các giả dụ không áp dụng mức thuế suất 0% gồm: Tái bảo hiểm ra nước ngoài; chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; chuyển nhượng vốn, cấp tín dụng, đầu tư chứng khoán ra nước ngoài; dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông chiều đi ra nước ngoài (bao gồm cả dịch vụ bưu chính viễn thông chế tạo cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; chế tạo thẻ cào điện thoại di động đã với mã số, mệnh giá đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào khu phi thuế quan); sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; hàng hoá, dịch vụ sản xuất cho cá nhân không đăng ký kinh doanh trong khu phi thuế quan, trừ các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; Xăng, dầu bán cho xe ô tô của cơ sở marketing trong khu phi thuế quan sắm tại nội địa; Xe ô tô bán cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan. các dịch vụ do cơ sở marketing cung ứng cho tổ chức, cá nhân ở trong khu phi thuế quan bao gồm: cho thuê nhà, hội trường, văn phòng, khách sạn, kho bãi, dịch vụ vận chuyển đưa đón người lao động; dịch vụ ăn uống (trừ dịch vụ sản xuất suất ăn công nghiệp, dịch vụ ăn uống trong khu phi thuế quan). các dịch vụ sau phân phối tại Việt Nam cho tổ chức, cá nhân ở nước không tính không được áp dụng thuế suất 0% gồm:
- Thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật, văn hóa, giải trí, hội nghị, khách sạn, đào tạo, PR, du lịch lữ hành;
- Dịch vụ thanh toán qua mạng.
các giả dụ không áp dụng thuế suất 0% áp dụng theo thuế suất tương ứng của hàng hoá, dịch vụ lúc bán ra, cung ứng trong nước.
5. Sửa đổi, bổ sung về nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
Sửa đổi, bổ sung về nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối có cơ sở cung cấp nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thuỷ, hải sản sở hữu tổ chức cung cấp khép kín, hạch toán kết quả cung ứng buôn bán tập trung mang dùng sản phẩm ở các khâu cung cấp nông nghiệp, lâm nghiệp; nuôi trồng, đánh bắt thuỷ, hải sản làm cho nguyên liệu để tiếp tục sản xuất chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT (bao gồm sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến xuất khẩu hoặc sản phẩm đã qua chế biến thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào dùng cho cho sản xuất buôn bán ở phần lớn những khâu đầu tư làm cho cơ bản, cung ứng, chế biến. nếu cơ sở buôn bán có dự án đầu tư để tiếp tục phân phối, chế biến và sở hữu văn bản cam kết tiếp tục cung cấp sản phẩm chịu thuế GTGT thì được kê khai, khấu trừ thuế GTGT ngay từ công đoạn đầu tư xây dựng cơ bản. Đối với thuế GTGT đầu vào phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB, doanh nghiệp đã kê khai, khấu trừ, hoàn thuế nhưng sau đấy xác định không đủ điều kiện, khấu trừ, hoàn thuế thì doanh nghiệp bắt buộc kê khai, điều chỉnh nộp lại tiền thuế GTGT đã khấu trừ, hoàn thuế. giả dụ công ty ko thực hiện điều chỉnh, qua thanh tra, kiểm tra cơ quan thuế phát hiện ra thì cơ quan thuế sẽ thực hiện truy thu, truy hoàn và xử phạt theo quy định. doanh nghiệp cần hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung đã báo cáo, cam kết giải trình có cơ quan thuế liên quan đến việc khấu trừ, hoàn thuế.
nếu cơ sở có bán hàng hóa là sản phẩm nông, lâm, thuỷ hải sản chưa qua chế biến hoặc mới qua sơ chế thông thường thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hóa, dịch vụ bán ra.
6. Sửa đổi, bổ sung về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối mang hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp sở hữu giá trị hàng hoá, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế GTGTđầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào. giả dụ chưa mang chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa tới thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ sở buôn bán vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng nếu không sở hữu chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở marketing cần kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ của giá trị hàng hoá ko sở hữu chứng từ thanh toán qua ngân hàng. nếu lúc điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương ứng có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, cơ sở kinh doanh đồng thời hạch toán nâng cao chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp khoản giá tiền tương ứng số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ đã điều chỉnh giảm thì sau khi có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, cơ sở kinh doanh được khai bổ sung thuế GTGT và thực hiện điều chỉnh giảm giá tiền tính thuế TNDN tương ứng. trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán tăng chi phí tính thuế TNDN khoản chi phí tương ứng số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ đã điều chỉnh giảm thì chẳng hề điều chỉnh lại giá thành tính thuế TNDN.
ví như đã quá hạn thanh toán chậm trả theo quy định trong hợp đồng, cơ sở marketing ko thực hiện điều chỉnh giảm theo quy định nhưng trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra tại trụ sở, cơ sở kinh doanh mang hầu hết chứng từ chứng minh đã thanh toán qua ngân hàng thì giả dụ việc ko điều chỉnh giảm không dẫn đến thiếu số thuế bắt buộc nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị xử phạt vi phạm về thủ tục thuế, nếu việc không điều chỉnh giảm dẫn đến thiếu số thuế nên nộp hoặc nâng cao số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị truy thu, truy hoàn và xử phạt theo quy định của Luật Quản lý thuế.
ví như cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanh tra tại trụ sở và với quyết định xử lý không chấp nhận cho khấu trừ thuế đối với những hóa đơn GTGT ko với chứng từ thanh toán qua ngân hàng, sau lúc với quyết định xử lý của cơ quan thuế cơ sở marketing mới mang chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì:
- Đối sở hữu các hóa đơn GTGT cơ sở buôn bán đã điều chỉnh giảm trước lúc cơ quan thuế tới thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung thuế GTGT.
- Đối mang những hóa đơn GTGT cơ sở buôn bán đã ko điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế tới thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung ví như sở hữu chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong thời hạn 6 tháng nhắc từ tháng với Quyết định xử lý của cơ quan thuế.
Cơ sở kinh doanh trong tháng vừa mang hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hoá, dịch vụ bán trong nước, trường hợp với số thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên (thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng bao gồm: thuế GTGT đầu vào chuyên dụng cho hoạt động xuất khẩu, dùng cho hoạt động kinh doanh trong nước chịu thuế và thuế GTGT chưa khấu trừ hết từ tháng trước chuyển sang), nhưng sau lúc bù trừ sở hữu số thuế GTGT đầu ra của hàng hoá, dịch vụ bán trong nước và phân bổ theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu trong kỳ có tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế của cơ sở kinh doanh trong kỳ, nếu số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa dịch vụ xuất khẩu đã tính phân bổ như trên chưa được khấu trừ nhỏ hơn 200 triệu đồng thì cơ sở marketing ko được xét hoàn thuế theo tháng, nếu số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì cơ sở marketing được hoàn thuế GTGT theo tháng đối sở hữu hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét